About

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2015


Người phụ nữ có bầu khi được chẩn đoán mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) dễ bị sang chấn tinh thần vì lo sợ. Tuy nhiên, không như các dạng ĐTĐ khác, ĐTĐ thai kỳ thường tự động biến mất sau khi bé chào đời.


ĐTĐ thai kỳ là gì?


Đó là bi kịch rối loạn dung nạp glucose ở bất kỳ mức độ nào, được phát hiện trong thời kỳ bầu bí. Có thể nói, ĐTĐ thai kỳ chính là một thể bệnh ĐTĐ, chỉ hiện diện và chỉ tồn tại trong thời gian người chị em bầu bí. ĐTĐ thai kỳ khởi phát trong khi có thai và tự khỏi sau khi sinh. Nếu trong vòng 6 tuần sau khi sinh, người mẹ ĐTĐ thai kỳ chưa khỏi bệnh thì ngay lúc đó không được phép chẩn đoán là ĐTĐ thai kỳ nữa mà thuộc thể bệnh ĐTĐ týp 1, týp 2, ĐTĐ do dinh dưỡng hoặc ĐTĐ triệu chứng. Có nghĩa là  chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ một cách chắc chắn nhất đó là chẩn đoán hồi cứu sau khi sinh 6 tuần.


Bạn nên quan tâm: thuoc dieu tri tieu duong


Cần làm gì khi bị đái tháo đường trong thai kỳ?


Ai có nguy cơ


Những phụ nữ có nguy cơ cao nhất là một vài người đang mắc bệnh ĐTĐ hoặc đã từng mắc ĐTĐ thai kỳ trong lần bầu bí trước đó hay một vài người sinh 1 hay nhiều con có trọng lượng “đáng nể” khi mới chào đời. Những phụ nữ thừa cân và một số quý cô từng sảy thai hay tiền sản giật cũng có nguy cơ cao.


Ngoài ra, một vài nhóm quý cô sau cũng có nguy cơ:


- Những bà mẹ lớn tuổi (có khuynh hướng phát triển bệnh ĐTĐ do tuổi tác).


- Những phái yếu mắc bệnh huyết áp cao.


- Những quý cô mà từng có trọng lượng “khủng” sau sinh (nặng hơn 4kg).


- Những phụ nữ mà có cha/mẹ hay anh/chị em ruột từng phải tiêm insulin bồi bổ.


Chẩn đoán


ĐTĐ thai kỳ rất khó phát hiện nếu không làm xét nghiệm máu hoặc không làm nghiệm pháp dung nạp glucose vì bệnh thường không xảy ra các triệu chứng hay các dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài. Bởi vậy, toàn bộ chị em bầu bí đều cần phải khám sàng lọc ĐTĐ thai kỳ. Trước  đây, việc sàng lọc dựa vào kết quả xét nghiệm nước tiểu, theo kết quả này thì sẽ không chính xác vì nhiều phụ nữ mang thai không bị ĐTĐ thai kỳ mà vẫn có đường niệu dương tính. Mặt khác những người ĐTĐ thai kỳ cũng có một số lúc không xảy ra đường trong nước tiểu.


Xem thêm: các loại thuốc bổ gan


Bạn sẽ cần phải nhịn ăn trong ít nhất 6 giờ trước khi thực hiện xét nghiệm. Lúc đó, y tá sẽ lấy mẫu máu. Mẫu máu thứ nhất sẽ được dùng để đo mức đường huyết trong máu khi chúng mình đang nhịn ăn và được gọi là test cơ bản.


Sau đó, chúng ta sẽ được uống một cốc nước đường, khi đường ngấm vào máu, chúng ta sẽ được lấy máu lần 2 để đo mức đường huyết rồi so sánh với mức đường huyết trong mẫu máu lần 1.


Vì sao cần phải phát hiện ĐTĐ khi mang thai?


Rất có cách chúng mình sẽ đưa ra một câu hỏi cho chúng tôi: ĐTĐ thai kỳ tự khỏi, như vậy có cần phải phát hiện và can thiệp không? Chúng tôi xin trả lời với chúng mình rằng: rất cần. Nếu không xảy ra sự “rất cần” này thì hậu quả của ĐTĐ thai kỳ đối với người mẹ và thai nhi sẽ trở nên rất nghiêm trọng - nghiêm trọng trong quá trình mang bầu, trong lúc sinh và ngay cả cuộc sống sau này.



Tăng đường máu trong giai đoạn có bầu sẽ làm tổn hại dến thai nhi, gây ra một số bất thường bẩm sinh, thai to hoặc sảy thai. Trong 6 tháng cuối của thời kỳ mang thai, nếu người mẹ bị tăng đường huyết thì cũng gây tăng đường huyết cho thai nhi và gây ra bi kịch tăng insulin ở thai nhi. Sau khi sinh, do trẻ không nhận được lượng đường nhiều như khi còn đang ở trong tử cung của mẹ nữa, sự dư thừa insulin sẽ làm cho đường máu của trẻ dưới mức bình thường. Hạ đường máu ở trẻ rất dễ gây tổn thương các tế bào thần kinh trí não nếu không được điều trị kịp thời. Thai của một vài người mẹ ĐTĐ có xu hướng to hơn bình thường nên rất dễ có nguy cơ bị đẻ non. Do đẻ non nên trẻ có nhiều nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp, đặc biệt là hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh.


Bạn nên đọc: thuoc uong trang da hieu qua nhat


Nếu chế độ tập luyện và ăn  uống vẫn không kiểm soát được đường huyết, bắt buộc người bệnh phải dùng thuốc uống. Người bệnh ĐTĐ thai kỳ phải được điều trị bằng insulin với liều lượng do bác sĩ chỉ định, cần được theo dõi nghiêm ngặt trong suốt quá trình chữa trị, tránh gây hạ đường huyết và các tai biến khác.


Tăng đường huyết ở chị em mang thai sẽ gây nên tiền sản giật (tăng huyết áp, phù...) nếu không được phép kiểm soát tốt đường huyết. Tăng huyết áp ở người mẹ sẽ de dọa đến tính mạng của cả mẹ và thai nhi. ĐTĐ thai kỳ có giải pháp làm tăng nồng độ xê-tôn máu của người mẹ, bởi vậy mà thai nhi cũng bị tăng xê-tôn máu - một yếu tố không thuận lợi cho sự phát triển bình thường của thai nhi.
Cần làm gì?


Nhìn chung, cũng có cấu tạo giống như can thiệp cho một vài người bệnh ĐTĐ không mang bầu, với 3 biện pháp chính: chế độ sử dụng thức ăn, tập luyện và tin tưởng sử dụng thuốc. Việc thứ nhất, người bệnh phải thực hiện chế độ sử dụng thức ăn của người bệnh ĐTĐ. Tuy nhiên, nhu cầu năng lượng của người  mẹ được bồi dưỡng phải tùy thuộc vào trọng lượng trước khi có thai cũng như hiện tượng tăng cân kể từ lúc mang thai, và tùy thuộc vào sự đánh giá nhu cầu năng lượng trước đó. Qua đó, bạn mới tìm được nhu cầu thích ứng cụ thể với từng người bệnh ĐTĐ thai kỳ. Đối với ĐTĐ thai kỳ thì việc tập luyện phải hết sức thận trọng. Khi đang tập luyện, người bệnh cảm thấy mệt mỏi thì phải ngừng tập và cần được nghỉ ngơi. Trước khi bắt đầu bất kỳ chương trình tập luyện nào cũng cần có sự thảo luận giữa bệnh nhân và thầy thuốc để chọn lựa phương thức và thời lượng tập luyện tương thích nhất. Người phái yếu ĐTĐ thai kỳ có cơ hội luyện tập ở mức trung bình và tránh một vài hoạt động nhất định cho đến sau khi sinh đẻ. Trong tập luyện, người bệnh cần giữ nhịp tim không vượt quá 140 lần/phút, không nên để hiện tượng nhịp tim nhanh làm cho dài thêm và tránh tập luyện quá sức. Cũng như các bà mẹ có bầu khác, người mẹ bị ĐTĐ thai kỳ nên tản bộ hoặc bơi lội nếu có điều kiện.Trong khi bơi, sức nâng của nước sẽ làm giảm sức ép các khớp, không gây chấn thương cho các xương khớp ở bàn chân và cẳng chân.


Nếu chế độ tập luyện và bổ sung thức ăn vẫn không kiểm soát được đường huyết, bắt buộc người bệnh phải dùng viên uống. Người bệnh ĐTĐ thai kỳ phải được điều trị bằng insulin với liều lượng do bác sĩ chỉ định, cần được theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình điều trị, tránh gây hạ đường huyết và các tai biến khác.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét