About

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015


Gan tổng hợp acid béo từ glucid, protid và từ các loại thực phẩm chức năng thoái hóa của lipid. Acid béo được chuyển hóa theo chu trình ( oxy hóa của Knoop để cho năng lượng (chiếm 60% chuyển hóa acid béo của các bộ phân cơ thể).
 
Chức năng chuyển hóa


Chuyển hóa glucid


Glucid từ ruột theo tĩnh mạch cửa về gan chủ yếu là glucose, còn lại là galactose và fructose. Fructose và galactose sẽ được gan chuyển thành glucose trước khi thường xuyên dùng. Ngoài ra, gan có giải pháp tạo glucose từ các acid amin sinh đường, acid béo, glycerol và acid lactic. Các chất này sẽ được chuyển thành acid pyruvic hoặc phosphopyruvic rồi thành glucose-6-phosphat trước khi chuyển thành glucose.


Chuyển hóa lipid


Gan tổng hợp acid béo từ glucid, protid và từ các loại thực phẩm chức năng thoái hóa của lipid. Acid béo được chuyển hóa theo chu trình ( oxy hóa của Knoop để cho năng lượng (chiếm 60% chuyển hóa acid béo của các bộ phân cơ thể).


Đọc thêm: thuoc tieu doc gan


Ngoài ra, gan còn tổng hợp cholesterol, cholesteroleste, phospholipid, triglycerid và các lipoprotein (HDL, LDL và VLDL).


Phospholipid và lipoprotein là các dạng vận chuyển lipid chủ yếu của các bộ phân cơ thể. Cholesteroleste là dạng vận chuyển acid béo.


Chuyển hóa protid


Gan là cơ quan chuyển hóa cũng như dự trữ protid. Chuyển hóa protid ở gan xảy ra rất mạnh mẽ bao gồm 2 quá trình: chuyển hóa acid amin và tổng hợp protein.


Chuyển hóa acid amin:


Chuyển hóa acid amin ở gan xảy ra rất mạnh mẽ qua 3 quá trình khử carboxyl, khử  amin và trao đổi amin.


Khử carboxyl:


Nhờ các enzym decarboxylase, tuy nhiên quá trình này ở gan không quan trọng.


Khử amin:


Nhờ các enzym đặc hiệu desaminase tạo nên acid cetonic và NH3. Quá trình này liên quan chặt chẽ với quá trình trao đổi amin.


Trao đổi amin:


Là quá trình quan trọng nhất để gan tổng hợp nên các acid amin nội sinh đặc hiệu cho toàn bộ cơ thể từ các acid amin ăn vào nhờ một loại enzym quan trọng là transaminase. Trong đó, có 2 enzym rất quan trọng là GPT và GOT:


Bạn nên quan tâm: uong thuoc giai doc gan co tot khong


GOT (glutamat oxaloacetat transaminase) hay ASAT (aspartat transaminase).


GPT (glutamat pyruvat transaminase) hay ALAT (alanin transaminase).


Chúng xúc tác cho một số phản ứng sau:


Aspartat + α cetoglutarat ßGOTà Oxaloacetat + Glutamat.


Alamin + α cetoglutarat ßGPTà Pyruvat + Glutamat.


Tổng hợp protein:


Tế bào ganchế tạo gần 50% lượng protein trong cơ thể. Vì vậy, gan có khả năng tái sinh rất mạnh. Sau thời điểm cắt một phần, gan có thể tái tạo trở lại.


Tổng hợp protein huyết tương:


Gan tổng hợp tất cả albumin của huyết tương, một phần ( và ( globulin. Vì vậy, khi suy gan, protein máu giảm làm giảm áp suất keo, dịch từ mạch máu thoát vào tổ chức nhiều dẫn đến phù.


Tổng hợp các yếu tố đông máu:


Gan tổng hợp fibrinogen và các yếu tố đông máu II, VII, IX và X từ vitamin K. Khi suy gan, quá trình đông máu bị rối loạn, bệnh nhân rất dễ bị xuất huyết.


Chức năng dự trữ


Gan dự trữ cho cơ thể nhiều chất quan trọng: máu, glucid, sắt và những vitamin như A, D, B12 trong đó quan trọng là vitamin B12.


Dự trữ máu


Lượng máu chứa trong gan bình thường khá lớn (khoảng 600 - 700 ml). Khi áp suất máu tại tĩnh mạch gan tăng lên (truyền dịch, sau bữa ăn, uống nhiều nước...), gan có mẹo hay phình ra để chứa thêm khoảng 200 - 400 ml.


Ngược lại, khi cơ thể hoạt động hoặc khi thể tích máu giảm, gan sẽ co lại, đưa một lượng máu vào hệ tuần hoàn.


Tham khảo thêm: thuốc rối loạn tiền đình


Dự trữ glucid


Gan dự trữ glucid dưới dạng glycogen, lượng glycogen dự trữ này đủ bổ sung năng lượng cho các bộ phân cơ thể hoạt động trong vòng vài giờ.


Thông qua việc dự trữ glycogen, gan tham gia điều hòa đường huyết. Khi đường huyết tăng, quá trình tổng hợp glycogen tăng lên để dự trữ. Ngược lại, khi đường huyết hạ, quá trình phân ly glycogen tăng lên để đưa glucose vào máu nhằm giữ ổn định đường huyết.


Như vậy, gan đóng vai trò rất quan trọng trong điều hòa đường huyết. Các hệ thống điều hòa đường huyết như nội tiết và thần kinh đều thông qua gan. Khi suy gan, điều hòa đường huyết sẽ bị rối loạn cho dù hệ thống nội tiết và thần kinh vẫn còn tốt.



Dự trữ sắt


Gan là trong 3 cơ quan của toàn bộ cơ thể dự trữ sắt (gan, lách và tủy xương, dự trữ 20% lượng sắt của toàn bộ cơ thể, khoảng 1 g). Lượng sắt dữ trữ này đến từ thức ăn hoặc từ sự thoái hóa Hb. Gan dự trữ sắt dưới dạng feritin. Khi cần, gan sẽ đưa sắt đến cơ quan tạo máu nhờ một loại protein vận chuyển sắt là transferin do gansản xuất ra.


Dự trữ vitamin B12


Gan có giải pháp dự trữ vài miligam, trong khi nhu cầu của toàn bộ cơ thể khoảng 3 (g trong một ngày. Vì vậy,thuốc bổ não cho người giàồi theo tĩnh mạch cửa trở về gan và được tái bài tiết, gọi là chu trình ruột gan (hình 1).


Còn lại 5% muối mật được ngăn chặn theo phân có công dụng giữ nước trong phân và duy trì nhu động ruột già.


Sắc tố mật


Sắc tố mật (hay còn gọi là bilirubin trực tiếp, bilirubin kết hợp) là một chất hình thành ở gan từ loại sản phẩm thoái hóa Hb trong cơ thể và sau đó được thải ra theo dịch mật.


Cholesterol


Tế bào gan tổng hợp cholesterol đểchế tạo muối mật, một phần cholesterol được thải ra theo dịch mật để giữ hằng định cholesterol máu.


Khi xuống đến ruột, 1 lượng cholesterol được tái hấp thu trở lại.


Cholesterol không tan trong dịch mật, để tan được nó phải ở dưới dạng micelle cùng với muối mật và lecithin và gọi là sự bão hòa cholesterol của mật. Khi mật mất khả năng bão hòa này (do tăng cholesterol hoặc do giảm muối mật và lecithin), cholesterol sẽ tủa tạo nên sỏi.


Xem thêm: da da nhanh chong


Chức năng chống độc


Gan được xem như là một hàng rào giữ gìn cơ thể để chống lại các yếu tố độc hại xâm nhập qua đường tiêu hóa. Đồng thời, nó làm giảm độc tính và thải trừ một số chất được tạo ra trong quá trình chuyển hóa của cơ thể. Cơ chế chống độc của gan do cả tế bào Kupffer và tế bào gan đảm nhiệm.


Tế bào Kupffer


Thực bào các vi khuẩn xâm nhập vào toàn bộ cơ thể qua đường tiêu hóa, đồng thời thực bào cả các hồng cầu già và xác hồng cầu bị vỡ.


Tế bào gan


Chống độc bằng 2 cơ chế:


Giữ lại những kim loại nặng như đồng, chì, thủy ngân...và một vài chất màu như Bromo-Sulfo-Phtalein (BSP). Sau đó, sẽ thải ra ngoài.


Bằng các phản ứng hóa học để biến các chất độc thành chất không độc hoặc ít độc hơn rồi thải ra ngoài qua đường mật hoặc đường thận.


Phản ứng tạo urê từ NH3


NH3 được hiện diện trong các bộ phân cơ thể qua quá trình khử amin hoặc hấp thu từ ruột già vào máu. Đây là một chất độc đối với cơ thể, đặc biệt là đối với hệ thần kinh. Gan sẽ sửa đổi NH3 thành urê qua chu trình Ocnitin chỉ có ở gan. Sau đó, urê được thải ra trong nước tiểu.


Khi suy gan, NH3 máu tăng lên gây nên hôn mê gan.


Khử độc bằng các phản ứng oxy hóa khử, metyl hóa. acetyl hóa


Oxy hóa rượu thành acid acetic.


Khử aldehyd thành alcol.


Acetyl hóa Sulfanilamit thành chất ít độc hơn.


Khử độc bằng các phản ứng liên hợp


Liên hợp sulfonic:


Các chất độc tạo ra do men thối ở ruột và hấp thu 1 phần vào máu như: indol, phenol, scatol... sẽ kết hợp với acid sulfuric tại gan thành các sulfat ít độc và thải ra trong nước tiểu.


Liên hợp với glycin:


Ví dụ: acid benzoic là một chất độc được liên hợp với glycin tạo thành acid hippuric và thải ra trong nước tiểu.


Liên hợp với acid glucuronic:


Đây là cơ chế chống độc chính của gan. Rất nhiều chất như: bilirubin, alcaloid, phenol, các hormon steroid, một vài viên uống như: aspirin, kháng sinh, barbiturat... sẽ được liên hợp với acid glucuronic. Sau đó, các chất này được thải ra trong nước tiểu hoặc trong dịch mật.

Theo: http://i.thietkewebcongty.net

0 nhận xét:

Đăng nhận xét